[11/2023] Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt

Rate this post

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam



Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam hay thường gọi là Đạo Mẫu (道母), thờ Thánh Mẫu, thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ xuất hiện khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, Thánh Mẫu, Thánh Cô, Mẫu tam phủ, tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.[1] Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.[2] Ngoài ra còn có Thánh Bản mệnh là vị thần đứng đầu dẫn dắt người tu đạo đi đến với Mẹ (Mẫu) – Đấng Tối cao trong Đạo Mẫu Việt Nam – Hoàng Thiên Tiên Thánh Giáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.

Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” tại 21 tỉnh đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Các ghi chép[sửa | sửa mã nguồn]

Những tài liệu văn bản ghi chép về các Thánh Mẫu thường xuất phát từ thần thoại, huyền thoại, truyện kể dân gian và đồng thời cũng có hiện tượng ngược lại là huyền thoại hóa, dân gian hóa các văn bản thần tích, thần phả. Các truyện kể dân gian về 3 vị Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải lưu truyền trong dân gian khá phong phú, sau này một số được ghi chép lại trong các sách cổ như Việt điện u linh tập, ngoài ra còn có các truyện kể dân gian khác về các vị nữ thần được các sách sau này tập hợp và ghi chép lại.

Cùng với việc sưu tầm, một số tác giả là các trí thức nho học thời phong kiến đã tiến hành ghi chép lại và sáng tác thêm những huyền thoại, truyền thuyết đã được sưu tầm ghi chép từ trước và thậm chí là sáng tác thêm cho phù hợp tư tưởng lễ giáo thời kỳ đó. Từ thời Hậu Lê, đã có những việc như vậy nhằm phục vụ cho việc phong thần của các vị vua với hai trường hợp điển hình với các ghi chép-sáng tác về Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở miền bắc Việt Nam của Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm và trường hợp thứ hai là về Thiên Y A Na ở nam Trung Bộ Việt Nam của Phan Thanh Giản. Cũng có một nguồn tư liệu khác được dân gian sáng tác từ các huyền thoại, truyền thuyết và thậm chí là các truyện, thơ về các Thánh Mẫu. Đó là các bài hát văn ở Mẫu Tam phủ Tứ phủ với phần cốt lõi của các bài hát văn là lai lịch, sự tích các vị thần, nhất là các Thánh Mẫu.

Các công trình nghiên cứu đầu tiên về Nữ thần, Thánh Mẫu (Mẫu Thần) ở Việt Nam đều là các công trình của các nhà khoa học người Pháp như Parmenties, Maspero, Durand, Simond và kế tiếp là các nhà khoa học người Việt như Nguyễn Văn Huyên, Đào Thái Bình,…

Từ thập niên 1990, nhất là sau hội thảo quốc gia về Thánh Mẫu do Viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu (Hà Nội), không khí học thuật liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung diễn ra sôi động, hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu đã được công bố.

Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hóa được việc tôn thờ Mẫu ở Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại. Về phương diện lịch đại, tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa (Mẫu Tam phủ, Tứ phủ). Tới thế kỷ XVII-XVIII, sau khi tín ngưỡng Mẫu Tam phủ Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần.

Cùng với sự tiến bộ xã hội và nhân đạo phát triển, sau này người ta phối thờ thêm các vị thần linh là nhân thần có công khai hoang mở đất, vị anh hùng dân tộc đấu trạnh chống giặc ngoại xâm, các vị thần linh bản cảnh địa phương có công truyền nghề, các tiên hiền,…. (Có cả Nam Thần linh). Những vị này được thờ tại đền riêng hoặc phối thờ vào cùng với các đền, điện thờ Mẫu trên khắp cả nước, hình thành nên hệ thống thần linh bản địa được thờ phụng rộng rãi gắn liền với cuộc sống nhân sinh nước Việt chứ không còn thuần túy thờ Nữ Thần, Thánh Mẫu nữa. Đến nay tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được gọi chung là Đạo Mẫu Việt Nam, bản chất là thờ Tam phủ, Tứ Phủ (Tam phủ công đồng – Tứ Phủ Vạn Linh) và Thánh Mẫu Liễu Hạnh vẫn là thần chủ.

Read More:   [10/2023] Tính ước Lệ, Tượng Trưng Trong Văn Học Nghệ Thuật

Về phương diện đồng đại, đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào phương Nam trong quá trình nam tiến. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer, người Lào từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam ở ba miền Bắc bộ, Trung bộ và cả Nam bộ.[3]

Các dạng thức thờ Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ Mẫu ở Miền Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ XV trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Mẫu Âu Cơ, Quốc Mẫu Tây Thiên, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương, Đinh Triều Quốc Mẫu…

Từ khoảng thế kỷ XV trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện các nhân vật như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Cô Đôi Thượng Ngàn,… với các nghi thức một phần ảnh hưởng từ Đạo giáo

Thờ Mẫu ở Miền Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực nam Trung bộ, cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây không chỉ là tín ngưỡng thờ Mẫu có sự hiện diện của mẫu Tam phủ, Tứ phủ nhưng khác hơn đôi chút so Miền Bắc (Hầu đồng Huế) mà còn có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần. Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar, và tín ngưỡng thờ Bà Hỏa (Hỏa Tinh Thánh mẫu) ở làng Tân Trà (An Đôn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) sau này lưu truyền vào miền Nam Bộ[4]

Phật Giáo là một tín ngưỡng dân gian của Huế, tích hợp Đạo giáo Trung Hoa đã thoái hóa với tín ngưỡng thờ Mẫu và nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác của người Việt. Sự ra đời của tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh giáo ở Huế xuất phát từ sự gắn kết của Hội Sơn Nam với ngôi điện Huệ Nam thời Nguyễn. Hội Sơn Nam là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn. Tín ngưỡng đặc trưng của hội này là tín ngưỡng thờ Mẫu kết hợp với việc thờ Đạo giáo đã thoái hóa. Còn Huệ Nam điện vốn là ngôi đền thờ Po Nagar của người Chăm. Tiếp nhận từ người Chăm một di tích tôn giáo độc đáo, người Việt đã “bản địa hóa” nữ thần PoNagar thành nữ thần Thiên Y A Na, tôn làm “thượng đẳng thần”.

Thờ Mẫu ở Miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành (Ngũ Hành nương nương), Tứ vị Thánh nương, Bà Thủy Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô, Bà Cố Hỷ,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…Bên cạnh đó, còn có các cô linh ứng ở một số vùng như Cô Năm Châu Đốc, Cô Hai Châu Đốc, Cô Hai Hiên (Sa Đéc), Cô Sáu (Côn Đảo),…

Tứ Phủ (Thờ Mẫu ở Miền Bắc)[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ, các vị thần trong điện thần tam phủ có nguồn gốc không chỉ của người Việt, mà còn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam như người Mường, Tày, Nùng, Dao, v.v. Về cơ bản Đạo Mẫu Tứ Phủ tự có một hệ thống thần linh đông đảo trong đó chủ yếu là phúc thần. Các tín đồ thường chỉ tập trung thờ tự và sinh hoạt tín ngưỡng xoay quanh các vị này. Chủ chốt và cao nhất là Ngọc Hoàng Thượng đế, Tứ Phủ Thánh Mẫu, rồi thấp dần là các hàng Tôn Quan (Quan Lớn), Thánh Chầu (Chầu Bà), Thánh Hoàng (Ông Hoàng), Thánh Cô và Thánh Cậu, Ngũ Hổ và Ông Lốt,… và có cả các thần linh địa phương (Thánh Bản Cảnh/ Thánh bản tỉnh).

Thần điện Đạo Mẫu Tứ Phủ về cơ bản như sau:

Tứ Phủ Thánh Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Cha Thiên Phủ: Ngọc Hoàng Thượng đế là vị Thánh cao nhất trong đạo Mẫu, có ban thờ riêng trong các đền và phủ thuộc tín ngưỡng thờ Mẫu. Đứng hai bên ngài là Quan Nam Tào và Quan Bắc Đẩu. Tuy nhiên, cũng có nơi không có ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế.Vua Cha Địa Phủ: Minh VươngVua Cha Thoải Phủ: Long Vương Bát Hải Động ĐìnhVua Cha Nhạc Phủ: Tản Viên Sơn Thánh

Read More:   [10/2023] Tổng Đài Viettel, Số Điện Thoại Hotline CSKH 24/7 Viettel 2023

Tứ Phủ Thánh Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu các vị căn cứ theo khoa cúng chính thức của Đạo Mẫu Tứ Phủ

Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên: tức Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thiên Tiên, Mẫu Đệ NhấtMẫu Đệ Nhị Địa Tiên: Liễu Hạnh Công chúaMẫu Đệ Tam Thuỷ Tiên: tức Mẫu Thoải, Mẫu Đệ Tam.Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên: tức Mẫu Thượng Ngàn

Tranh vẽ Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên trong trang phục thời Lê. Tác phẩm thuộc dự án Thánh Nhan bởi trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Mẫu Đệ Tam Thuỷ Tiên trong trang phục thời Lê. Tác phẩm thuộc dự án Thánh Nhan bởi trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên trong trang phục thời Lê. Tác phẩm thuộc dự án Thánh Nhan bởi trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Ngũ Vị Tôn Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Lớn Đệ Nhất Thượng ThiênQuan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn, Thanh TraQuan Lớn Đệ Tam Thoải PhủQuan Lớn Đệ Tứ Địa Phủ, Khâm SaiQuan Lớn Đệ Ngũ Giám Sát, Tuần Tranh

Tranh màu nước vẽ Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên thưởng trà. Hoạ sĩ: Đoàn Thành Lộc

Tranh màu nước vẽ Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn ngắm cây tiểu cảnh. Hoạ sĩ: Đoàn Thành Lộc

Tranh màu nước vẽ Quan Lớn Đệ Tam Thuỷ Phủ cưỡi sóng ngao du. Hoạ sĩ: Đoàn Thành Lộc

Tranh màu nước vẽ Quan Lớn Đệ Tứ Địa Phủ làm thơ. Hoạ sĩ: Đoàn Thành Lộc

Tranh màu nước vẽ Quan Lớn Đệ Ngũ Giám Sát Tuần Tranh chơi đàn. Hoạ sĩ: Đoàn Thành Lộc

Ngoài ra còn có các vị Lục Phủ Tôn Quan: Quan Lớn Đệ Lục, Quan Lớn Điều Thất, Quan Hoàng Triệu Tường, Quan Lớn Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm. Các vị Quan hay được hầu là Quan Lớn Đệ Nhị, Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ.

Tứ Phủ Thánh Chầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chầu Đệ Nhất Thượng ThiênChầu Đệ Nhị Thượng NgànChầu Đệ Tam Thoải CungChầu Đệ Tứ Địa Cung Khâm SaiChầu Năm Suối LânChầu Lục Cung NươngChầu Bảy Kim Giao (Chầu Bảy Tân La)Chầu Bát NgànChầu Chín Cửu TỉnhChầu Mười Đồng MỏChầu Bé Bắc LệChầu Bà Bản Cảnh

Tranh vẽ Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Chầu Tam Thoải Cung trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.]]

Tranh vẽ Chầu Đệ Tứ Địa Cung Khâm Sai trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu Đệ Nhị, Chầu Đệ Tứ (thường Thủ đền, Thủ điện hầu), Chầu Năm, Chầu Lục, Chầu Bát, Chầu Mười, Chầu Bé. Ngoài ra còn một số vị Chầu Bản Đền khác cũng có hát văn, nhưng về cơ bản ít được hầu bóng hoặc là chỉ ở một địa phương hoặc vào ngày tiệc Thánh.

Tứ Phủ Thánh Hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng CảHoàng ĐôiHoàng Bơ Thoải CungHoàng TưHoàng NămHoàng Lục Thanh HàHoàng Bảy Bảo HàHoàng Tám Bát NùngHoàng Chín Cờn MônHoàng Mười Nghệ An

Các giá Hoàng thường ngự đồng là Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười.

Tứ Phủ Thánh Cô[sửa | sửa mã nguồn]

Cô Cả Thượng ThiênCô Đôi Thượng NgànCô Bơ Thoải CungCô Tư Địa CungCô Năm Suối LânCô Sáu Sơn TrangCô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Tân La)Cô Tám Đồi ChèCô Chín Sòng SơnCô Mười Mỏ BaCô Bé Thượng Ngàn: bao gồm nhiều Cô Bé ở chốn thượng ngàn như Cô Bé Đông Cuông, Cô Bé Suối Ngang, Cô Bé Tả Van, v.v.Cô Bé Thoải: bao gồm nhiều Cô Bé ở chốn sông nước như Cô Bé Thác Bờ, v.v.

Tranh vẽ Cô Cả Thượng Thiên trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Cô Đôi Thượng Ngàn trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Cô Bơ Thoải Cung trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Tranh vẽ Cô Tư Địa Cung trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces – Tứ Phủ.

Các cô hay ngự đồng là Cô Đôi Thượng Ngàn, Cô Bơ Thủy Cung, Cô Chín Đền Sòng, Cô Bé Thượng Ngàn.

Tứ Phủ Thánh Cậu[sửa | sửa mã nguồn]

Cậu Cả, Cậu Đôi, cậu Bơ, Cậu hoàng bé bản đền, Cậu Bé Đồi Ngang

Ngũ Hổ Thần Tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm ông hổ tượng trưng ngũ hành, được thờ dưới hạ ban để bảo vệ đền điện.

Thanh Xà Bạch Xà Thần Tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Hai ông rắn xanh và rắn trắng, gọi là các ông Lốt, tượng trưng cho đất và nước

Ngoài ra cũng có nhiều vị khác được hát văn ca ngợi, và có hầu một số vị Chúa bà bản cảnh như Chúa Thác Bờ, Bà Chúa Năm Phương vv… Các thần linh kể trên là các thần linh phổ biến nhất, được đông đảo con nhang đệ tử của Đạo Mẫu công nhận thờ phụng, ngoài ra còn một số vị khác ở địa phương, cũng được đưa vào hầu bóng, thường là các Cô bé.

Phạm vi di sản phi vật thể[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt ở 21 tỉnh thành phía Bắc Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 21 tỉnh có tín ngưỡng thờ mẫu trong hồ sơ đề cử UNESCO là: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Phú Thọ, Lạng Sơn, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.

Read More:   [10/2023] Tên Tiếng Anh Hay Cho Con Trai Và Con Gái Ba Mẹ Nên đặt

Dưới đây là các trung tâm thờ mẫu tiêu biểu:

Hà Nội: có 1014 di tích thờ Mẫu và 886 điện tư gia,[5] tiêu biểu như: Phủ Tây Hồ, Đền Quan Tam Phủ, đền Rừng, đền Lừ, đền Sét, đền An Thọ, đền Bà Kiệu, đền Liên Hoa, đền Lưu Phái, Minh Ngự Lâu (Thanh Trì), cụm đền Đại Lộ, đền Sở, đền Dầm (Thường Tín), Đền Sòng Vọng.Ninh Bình: có 415 di tích lịch sử văn hóa thờ và phối thờ Mẫu,[6] tiêu biểu như: Đền Dâu, đền Quán Cháo, phủ Đồi Ngang, Đền Sòng Sơn , Đền Cửu Tỉnh, phủ Châu Sơn, đền Cô Đôi Thượng Ngàn, đền Vân Thị, đền Sầy, chùa Bái Đính cổ, đền Quèn Thạch, đền Thung Lá, đền Mẫu Thượng…Nam Định: có 352 di tích lịch sử – văn hoá thờ và phối thờ Mẫu; trong đó có 220 phủ, 16 miếu, 72 chùa phối thờ, 44 đền, đình thờ chung với thành hoàng làng,[7] tiêu biểu như Phủ Dầy (huyện Vụ Bản), Phủ Quảng Cung (Xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), Phủ Nấp.Hà Nam: có 185 di tích thờ Mẫu,[8] tiêu biểu như: Đền Lảnh Giang (Duy Tiên), đền Bà Vũ, đền Mẫu Cửu Tỉnh, miếu Bà Đặng Xá, miếu Hạ Đồng Lạc.Thái Bình: Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải, Đền Hưng Long thờ Quan Hoàng Bơ, Đền Thánh Mẫu thờ Đinh Triều Hoàng Hậu.Hải Dương: Đền Đoan (Ninh Giang), Đền thờ quan Tuần Tranh, đền cổ Đông Giang Linh Từ (Trương Mỹ – TPHD), đền mẫu Kinh Câu (Tứ Kỳ) và đền Mẫu Sinh, đền Gốm, đền Dím, đền Cối Xuyên.Hưng Yên: Đền Mẫu Hưng Yên, đền Thiên Hậu, đền Ghênh Văn Lâm, đền Bảo Châu, đền Mẫu Ba Đông, Đền Xích Đằng, Đền Đậu An…Hải Phòng: Phủ Thượng Đoạn, Đền Phú Xá, Đền Tiên Nga (Lê Lợi) , Đền Đông Cuông Đồng Lùn , Đền Long Sơn- Cô Chín Suối Rồng, Đền Tiên Nga, Đền Tam Kỳ, Đền Nghè , Đền Mẫu Vừng , Đền Hoành Sơn , Đền Cây Cậy , Đền Tứ Vị Thánh Nương – Đồ Sơn , …Vĩnh Phúc: có 60 điểm tín ngưỡng thờ Mẫu như: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, Đền Chân Suối, Đền bà chúa thượng ngàn, Đền chúa Mán -Đông Hội, Đền Thanh Lanh.Bắc Giang: Đền Công Đồng Suối Mỡ, đền Từ Mận, đền Đà Hy, đền Phủ, đền má, đền bà chúa kho thanh bình, phủ doãn, điện sơn linh, đền chúa nguyệt hồ, phủ bắc hà, đền cô chín thượng, đền ông hoàng bảy thượng thiên,Phú Thọ: Đền Tam Giang, Đền thờ Tam tòa Thánh Mẫu.Lạng Sơn: Đền Mẫu Sơn, Đền Công Đồng Bắc Lệ, Đền Mẫu Đồng Đăng, đền Mẫu Thượng Ngàn, Đền Suối Lân, Đền Giám Sát, Đền Chầu Lục, Đền Đồng Mỏ, Đền Đèo Kẻng, Đền Suối Ngang, Đền Chúa Cà Phê, Đền Kỳ Cùng.Hòa Bình: Đền Bồng Lai, đền Mẫu Thác Bờ, đền đầm đa.Lào Cai: Đền Bảo Hà, Đền Cô Tân An, đền Đôi cô Cam ĐườngYên Bái: Đền Đông Cuông, Đền Tuần Quán.Tuyên Quang: đền Ghềnh Quýt, đền Pha Lô, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mẫu Ỷ La, đền Lương Quán, đền Mỏ Than, đền Lâm Sơn, đền Quang Kiều, đền Cấm, đền Ba Khuôn và đền Minh Lương.Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn, Đền Chín Giếng, Đền Phố Cát, Đền Rồng, Đền Nước, Đền Phủ Mỗ, Đền Mẫu Phong Mục, Đền Hàn Sơn, Đền Cây Thị, Đền Ba Bông,…Nghệ An: Đền Ông Hoàng Mười, Đền Cờn thời ông Hoàng Chín, đền Hồng Sơn, đền Cửa, đền Ngọc Điền, đền Pu Nhạ Thầu.Hà Tĩnh: Đền Củi thờ Ông Hoàng Mười, đền Cả – Dinh đô Quan Hoàng Mười, đền Nước Lạt, Miếu Chai (Thạch Đài), đền Văn Sơn (Thạch Đỉnh).Thừa Thiên Huế: Điện Hòn Chén.Thành phố Hồ Chí Minh: Đền Mẫu, đền Đằng Giang, đền Chầu Lục, Đền chầu mười, Đền Sòng Sơn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

^ Hỏi đáp tín ngưỡng thờ mẫu^ Cần nhiều giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ Mẫu^ Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt^ Tín ngưỡng thờ Bà Hỏa ở Nam bộ – Trang Văn nghệ Huế^ Hội thảo khoa học “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội – Nhận diện, bảo tồn và phát triển”^ Hội thảo tư vấn phản biện “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt Nam trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” giai đoạn 2019-2025^ Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong các di tích đền, phủ ở tỉnh Nam Định^ “Nghi lễ chầu văn ở Hà Nam hiện trạng và biện pháp giữ gìn”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.Thế giới ‘phấn hoa’ của những hầu đồng Lưu trữ 2012-01-30 tại Wayback Machine, Báo Đất Việt, ngày 28 tháng 1 năm 2012.

Với những thông tin mà Rcmitt.com chia sẻ, chúng tôi hy vọng với thông qua bài viết về “[11/2023] Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt❤️️”.có thể giúp bạn có thêm nhiều thông tin cũng như hiểu rõ hơn về chủ đề “[11/2023] Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt” [ ❤️️❤️️ ]”.

Related Posts

[09/2023] Breakdown Là Gì?

Breakdown là gì? Ở mỗi lĩnh vực, breakdown sẽ mang một ý nghĩa khác, rất đa dạng và phong phú trong tầng nghĩa, vậy nên breakdown được…

[09/2023] Ý Nghĩa Của Cost Breakdown Là Gì ? Cost Breakdown Cost Breakdown

COST BREAKDOWN LÀ GÌ Định nghĩa Price breakdown là gì? Price breakdown là Phá giá. Đây là nghĩa tiếng Việt của thuật ngữ Price breakdown – một…

[09/2023] What Is Cost Breakdown Là Gì, Budget Breakdown Có Nghĩa Là Gì

JavaScript is disabled. Bạn đang xem: Cost breakdown là gì For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding. Đang xem: Cost breakdown là…

[09/2023] Breakdown Là Gì, Nghĩa Của Từ Breakdown | Từ điển Anh

Breakdown là gì? Ở mỗi lĩnh vực, breakdown sẽ mang một ý nghĩa khác, rất đa dạng và phong phú trong tầng nghĩa, vậy nên breakdown được…

Công Cụ Hỗ Trợ Tối ưu Quá Trình Ra Quyết định

COST-BENEFIT ANALYSIS (CBA) LÀ GÌ? Phân tích lợi ích chi phí (còn được gọi là phân tích chi phí lợi ích) là một quá trình mà các…

[09/2023] Cost Breakdown Nghĩa Là Gì

-To invite bids / tenders for sth: Mời tham gia đấu thầu dự án gì– To put sth out to tender/ contract : Đưa (dự án )…